Quê Nam Một Cơi

Hồ Trường An

 

Chương Bảy

Phương Triều, Người Lữ Hành Đi Vào Bí Nhiệm

Cuộc Sống Qua Tập Thơ  Xương Rồng Đen

Sa Đéc là một tỉnh nhỏ xinh xinh nằm bên bờ Sa Giang êm đềm, một phụ lưu của ḍng Tiền Giang. Tôi không nghĩ rằng đây là một chốn địa linh nhân kiệt. Nhưng về nghệ thuật sân khấu, nữ nghệ sĩ Năm Sa Đéc được vang danh khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh. Bà nổi danh từ bộ môn hát bội, rồi hát cải lương, sau hết là ở lănh vực thoại kịch và điện ảnh. Bà là kiện tướng của nghệ thuật tŕnh diễn không nhờ thanh sắc mà ở nghệ thuật diễn xuất. Nhắc tới bà, chúng ta nghĩ tới nữ nghệ sĩ Françoise Rosay của Pháp, hay nữ nghệ sĩ Marguerith Rutherford của Anh, Judith Anderson của Mỹ. Và ngoài ra, vào đầu thế kỷ 20 có 2 tay kiện tướng khoa bản như Luật sư Trần Ngươn Hanh, Kỷ sư Lưu văn Lang (xuất thân từ trường Đại Học Bách Khoa Trung Ương tại Pháp). Về văn chương trước năm 1975 có Sa Giang Trần Tuấn Kiệt nổi tiếng về thơ. Bên văn xuôi có chị Linh Trang (tác giả tập truyện Mưa Chiều) và Phương Triều. Nhưng lúc đó công việc sáng tác của họ chỉ như hoa chớm nụ, trăng vừa tṛn gương. Cả hai chỉ tung hoành bên báo chí nhiều hơn.

 

Vận nước đổi thay, cơ trời xoay chuyển. Khi ra hải ngoại, bên văn xuôi, hai nhà văn gốc tỉnh Sa Đéc là Nguyễn văn Ba, nữ sĩ Tiểu Thu tung ra những tập truyện viết về phong tục trên đất nước quê hương với bút pháp dí dỏm nồng mặn. C̣n Phương Triều bắt đầu khởi sắc ở nghệ thật sáng tác thi ca. Bởi anh không cộng tác với các báo văn học nổi tiếng như Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Khởi Hành v.v... nên không đuợc giới sành điệu biết đến nhiều.

Văn nghiệp của Phương Triều gồm có : C̣n Nhớ C̣n Thương (tập truyện, 1966), Tiếng Hát Hoàng Hôn(tập truyện, 1966), Sầu Hương Phấn(tập truyện, 1972), Thơ Phương Triều(thi tập, 1995), Trăm Bài Thơ Xuân(thi tập, 2000), Xóm Mộ(thi tập, 2001), Giọt Sữa Đất(thi tập, 2002). Và sau hết là Xương Rồng Đen (thi tập, 2004).

 

Xếp lại tập thơ Xương Rồng Đen, tôi bất đầu ngáp dă dượi. Không phải tôi không thích thú khi đọc nó. Không phải tôi chán ngấy với cái ư t́nh huyền bí mông lung của anh. Không phải thơ anh không mở cho tôi một cánh cửa, một lối đi, một ḍng sông để tôi viễn du vào trong đó. Tôi chỉ sợ khi b́nh thơ anh, tôi không đủ khả năng diễn tả cái cảm nhận của tôi đối với thơ anh.

 

Những bạn văn của tôi như 2 nhà thơ nữ Thụy Khanh, Nguyễn Thị Thanh B́nh và anh Vũ Tiến Lập có cho tôi biết Phương Triều là một trong các nhà thơ trội nhất trong các nhà thơ gốc Nam Kỳ hiện định cư khắp bốn phuơng trời hải ngoại. Anh dù không thể song hành với Trần Tuấn Kiệt, Tô Thùy Yên khi c̣n ở trong nước, nhưng anh vẫn bước vào loại thơ có lác đác một vài tư tưởng mà vẫn giữ nguyên vẹn vóc dáng và cốt tủy của thơ. Anh không có sở tri thâm hậu về Phật pháp như Vơ Chân Cửu qua các tập thơ Đại Mộngvà Thảng Lai Thi, không thuần túy sáng tác loại thơ bề ngoài là Trử T́nh Ca, nhưng bên trong chói rạng tinh thần Bát-nhă chẳng hạn như Như Chi Lê Thị Hiền (qua thi tập Thơ Hiền). Tuy nhiên, thơ anh vẫn phảng phất bóng dáng tư tưởng về cái ảo ảnh của cuộc phù thế, về cái khao khát niềm hạnh phúc vĩnh cửu của con người qua thơ của Ngô Nguyên Dũng, của Đặng Thị Quế Phương.

 

Có một điều đáng nói là các thơ gốc Nam Kỳ là Phan Ni Tấn và Lâm Hảo Dũng dù không phải là thơ tư tưởng mà là thơ cảm hoài, nhưng thơ của că hai phản ảnh được tâm trạng thế hệ của một lớp người khổ đau, chịu nhiều hệ lụy, chứng kiến biết bao cảnh tang thương và chịu nhiều mất mát về phương diện tinh thần. Cũng vậy, cái đề tài của thơ Phưong Triều cũng không thoát ra ngoài cái quỹ đao của hai anh Phan, Lâm để tạo cho ḿnh một cương vị sáng sủa trong thi giới. Một lẽ dễ hiểu: anh đă từng sống đọa đày dưới chế độ mới, đă nghiệm chứng được cái đau khổ của con người ḿnh bị tướt đoạt, đă chứng kiến mọi giá trị tinh thần bị cơn băo thời đại làm sụp đỏ. Anh cũng đă đau khổ v́ mọi cái quư báu của lư tưởng, của những giấc mưa vừa chớm h́nh thành mà vẫn chưa có cơ hội nào thực hiện nổi nên đành bị dập tắt một cách tức tưởi. Riêng thi tập Việt Nam Thương Khúccủa Kiệt Tấn là một tác phẩm của dân tháp ngà học đ̣i làm giang hồ kiếm khách, làm chiến sĩ xông pha trước mũi đạn lằn tên. Đương sự chỉ dùng lối thơ song thất lụcbát viết lại những thảm trạng trên quê hương qua các sách vở, chớ không có dịp dấn thân vào cuộc sống vào thời giông băo nhiễu nhương. Đó là đương sự làm thơ qua đống tài liệu chết, qua những câu truyện truyền khẩu dược tượng trưng bằng những cái xác ướp lâu đời trong các ngôi cổ mộ. Đă vậy, ngôn từ của thơ anh ta ít có công phu sáng tạo, ngôn ngữ thơ thiếu chất men quyến rũ. Tập thơ này thua xa tác phẩm đầu tay rất dễ thương của đương sự là tập thơ Điệp Khúc T́nh Yêu Và Trái Phá’’.

 

Trở về thi tập Xương Rồng Đen, trong số chúng ta sẽ có ngựi tự hỏi: Những tư tưởng nào mà được Phương Triều đưa vào thơ? Triết lư hiện sinh hay triét lư nhân bản? Phật pháp hay triết học Lăo Trang?Thật khó xác định được. Thơ anh bàng bạc nhiều thứ tư tưởng triết học lẫn tâm linh, không có tư tưởng nào rơ nét và kéo dài tràng giang đại hải. Có như thế tư tưởng trong thơ anh khỏi trở thành một thứ vay mượn lộ liễu. Song moi tư tưởng anh đi vào thơ không nhắm vào cái rối reng khuc khuỷu của hiện tượng, mà như những mũi tên nhắm vào bản thể hiện hữu. Nếu nhà văn hay nhà thơ cứ đào xới cái uyển chuyển, cái éo le, cái phức tạp của hiện tượng th́ chỉ có thể khai thác những nhân sinh quan của ḿnh. Đi vào bản thể, người cầm bút mới đào sâu vấn đề triết học và tư tưởng tâm linh.

 

Chúng ta thử đọc bài khai đề cùng tựa với thi tập của Phương Triều: Hoa Xương Rồng Đen’’:

 

Bụi xương rồng trong chậu

Nở được nụ hoa đen

Mong đợi kẻ thắp đèn

Soi mặt ḿnh hớn hở!

*

Mùa đông tưới nước sôi

Mùa hè dội nước đá

Hoa xương rồng nghiêng ngả

Theo vận đời nổi trôi...

*

Buổi tối ma vương về

Nh́n quanh cuời hả hê

Gai xương rồng có thật

Nhưng hoa là cơn mê !

(trang 3)

 

Đây có phải là bản tuyên ngôn ẩn núp sau bài thơ giáo đầu cho ư t́nh trong toàn thể thi tập chăng ? Hoa đen chỉ là cơn mê biểu tượng cho cái gi và điều ǵ ? Gai nhọn có thật th́ lại được ẩn dụ cho cái ǵ và điều ǵ ? Có phải chăng cuộc đời dưới ánh sáng Bát-nhă của nhà Phật là cơn đại mộng dẫy đây hoàn cảnh đen tối để trở thành ác mộng đói với kẻ lún sâu vào cơn mê lầm ? Cuộc đời vốn là huyễn mộng Và bởi nó là mộng nên các chúng sinh mới thấy nỗi đau khổ, mọi tai ương hoạn nạn (những gai độc đấy! ) đều là có thật.

 

Trong thi tập Xương Rồng Đen, tư tưởng nhà Phật bảng lảng ở rất nhiều câu thơ hoặc ở nhiều đoạn trong bài thơ. Tác giả không đè đầu đè cổ Phật pháp để ép uổng chúng vào thi ca đâu. Một khi ngọn bút anh nở hoa, bóng Phật và bóng Bồ-tát nuờm nượp hiện về. Dù là cái bóng, dù dưới thiên h́nh vạn trạng khác biệt nhau đều sản sinh từ một thực thể cả.

 

Xuôi mút ḍng sông chưa thấy biển

Nghe chừng chân trợt hóa hư vô

Lỡ tay moi hết từng mê hoặc

Từ đáy hồn reo tiếng băo xô!

*

Rót bao nước đủ cho đời khát ?

Rửa mât hiền nhân đặc sáp khô

Kéo thêm chỉ nối diều hoan lạc

Dẫu một trùng dương cũng hải hồ !

*

Cho chút trăng xưa về bến cũ

Mắt già thôi lạnh nếp khăn sô

Tiếng ai ầm ỉ ngày chiêu niệm

C̣n chút từ tâm cũng ư đồ !

*

Ghé qua hương gió cười xanh mộng

Ngọn tóc hài nhi nắng nhấp nhô

Đời bắt đầu dư năm tháng lạnh

Như đời có thật giữa hư vô!

(Có Thật, trang 57)

 

Cái mà chúng ta thấy biết qua năm giác quan, qua khái niệm chỉ là cái thấy biết dựa trên cái vô thường huyễn hoặc. Cho nên tác giả hoài nghi những khuôn mặt thánh hiền chỉ là cái mặt nạ bằng sáp. Con người vốn có dục vọng to tát và bất tuyệt th́ làm sao họ nắm bắt sự thật tuyệt đối. Ngay cả cái chút từ tâm của con người chưa chắc phải là ḷng bác ái chân thật mà là một ư đồ cầu danh hay cầu lợi ǵ đó. Cuộc đời ở cơi Ta bà nầy không phải là cái có thật tuyệt đối v́ trong sắc có không, trong không có sắc (như đời có thật giữa hư vô). Nếu hiểu được như thế, chúng ta mới có thể khởi hành vào chứng ngộ.

 

Lộn đêm thành giấc ngủ ngày

Kéo theo bóng mộng mệt nhoài giữa trưa

Nắng vàng chưa kịp xanh dưa

Đă rơi rụng xuống chỗ vừa mưa qua!

*

Mời trăng ngủ nán hiên nhà

Tiếng thơ thủy mạc hương trà thủy tiên!

*

Bút đâu vấy mực hảo huyền

Vung tay vẽ lối đào nguyên kẹt đường!

Xe đ̣ chạy sớm tinh sương

Bồn binh kẻ chợ thảm thương vật vờ

*

Lạc từ ngọn cỏ phất phơ

Từng con bướm mộng bơ vơ giữa đời...

(Bóng Mộng, trang 8)

 

Bài thơ nói lên cái trái trắc đảo điên trong cuộc sống Trong cơi phù du nhốn nháo và trái trắc đó, có những điều chưa kịp thành h́nh mà phải chịu cảnh dập tắt một ách tức tuởi (Nắng vàng chưa kịp xanh dưa/ Đă rơi rụng xuống chỗ vừa mưa qua). Ở đây chúng ta có thể nghĩ đén những con người chưa kịp trưỏng thành mả phải yễu mệnh chết non. Và cũng trong cơi ấy, mọi thưởng ngoạn, mọi sáng tác của người nghệ sĩ cũng trở nên huyễn hoặc và sa vào ngơ bí (xin đọc phân đoạn thứ 2 của bài thơ). Nhưng dù có bị đưa đẩy bởi nghiệp lực như ngọn cỏ phất phơ trong gió, con người vẫn cứ mộng, chưa thúc tỉnh để nhận diệni cái bản lai diện mục của hiện hữu (xin đọc hai câu cuối của bài thơ).

 

Từ đó vong thân vào nghiệp chướng

Mặt đời ràn rụa bóng chiêm bao

Đêm đen tṛng mắt ngày râu trắng

Từng lớp môi khô bật máu đào.

*

Xúm nhau diễn tới cùng im lặng

Rồi bật cười như mới được đau!

Neo hồn thương tích vào thương tật

Rồi lại buồn như chẳng thể nào....

(Nẻo Hồn, trang 85)

 

Như thế, c̣n mê là c̣n trầm luân trong bể khổ. Đây là hồi chuông cảnh tỉnh gióng giă của Đức Phật đưa con người tránh khỏi Neo hồn thương tích vào thương tật / Rồi lại buồn như chẳng thế nào...’’.

 

Con người nếu có cuộc sống b́nh ổn, nếu mọi ao ước của ai đó được thực hiện bằng cách này hay cách khác, đương sự thường săn t́m những mộng ước mới. Y ta không có thời giờ nh́n sâu vào những hiện tượng của mọi hiện hữu trong cuộc đời huống hồ là cái bản thể chung của mọi hiện tượng. Chính những con người đau khổ mới có dịp tư duy, mới có dịp nh́n sâu vào những hiện tượng tiêu cực của đời sống: những tai ương, những đau khổ, những tan vỡ của mọi ước vọng, những tranh chấp và mâu thuẩn trong xă hội, cái phù du huyễn hoặc của kiếp nhân sinh... Do dó, họ t́m ṭi ra cái nguồn gốc tiêu cực lẫn tích cực chung của vạn hữu. Từ đó, vấn đề tâm linh và vấn đề triết học mới được họ quan tâm.

 

Ở truờng hợp Phương Triều, dưới chánh thể Việt Nam Cộng Ḥa ở Miền Nam Việt Nam, anh sống tương đối thoải mái. Nhưng sau cuộc đổi đời kể từ sau ngày 30/ 4/ 1975 cho tới khi ra hải ngoại, cuộc sốngcủa anh đă trở thành khổ ải lầm than. Anh mới có dịp ńn sâu vào cái góc rễ của niềm bất hạnh ḿnh, cái trầm luân của nhân sinh. Dù có tiếp xúc với 2 bộ môn triết học và tâm linh hay không, anh vẫn phải t́m cho ḿnh một hệ thống nhân sinh quan nào đó để trực diện với hoàn cảnh mới, để đương đầu với mọi trắc trở truớc một cuộc sống tối đen đầy cạm bẫy. Do đó, thơ anh không c̣n đơn giản và thấm ướt mạch trữ ́nh lăng mạn nữa. Nó lột xác thành một loại thi ca có chiều sâu hun hút, choáng ngợp cái bí nhiệm của cuộc sống.

 

Khi giấc ngủ không c̣n mộng được

Trái trời xanh rụng trắng mặt đêm hoang

Tiếng trống vọng xôn xao vào ngơ ruột

Vỗ hồn khon thảng thốt gọi trăng tàn!

*

Cuối lưu vực sỏi chao ḍng nghịch thủy

Vác nhục nhằn sông lặng xuống đa mang

Tay cơi thế nối mưa vào đọt nơn

Bởi kỳ dư gốc gác đẫm sương tan!

*

Tay vấy đậm những lần rơi rớt vụn

Người vô tư ngồi giữa mộng vô vàn

Miếng vinh nhục mấy khi mà lơ láo

Chút dây tḥng sao thắt đủ nghiệt oan?

*

Tiếng trống chợ tưỏng đâu mùa tựu học

Cắt trầm luân chia đủ giọng rao hàng

Ông Tám hôm qua bà Ba bữa trước

Tắm rửa bao lần chưa tới được cao sang!

*

Chơi bản ruột sao đờn theo trật ư?

Rớt nhịp mơ hồ sao cất giọng lên ngang?

Bao tội vạ đổ lên đầu tội nghiệp

Nước sông đầy sao đáy ruộng khô khan?

(Bản Ruột, 50, 51)

*

* *

Chúng ta hăy ngưng bước viễn du vào các lănh vực tư tưởng, hăy hượm đừng vội vào các môi trường nhân sinh quan của nhà thơ Phương Triều. Bây giờ có nhiều người tự hỏi: Phương Triều oằn vai gánh vác tư tưởng vào thơ, nhưng thơ có chấp nhận chúng không? Thơ anh có bị dị ứng với những ư tưởng chỉ có thể hiện diện trong các cuốn biên khảo triết học và tâm linh không? Có phải đó là những ư tưởng không thể phù hợp với môi trường thi ca làm cho thi ca không thể tiêu hóa chúng nổi và phải thượng thổ hạ tả chúng ra ngoài không?  Xin thưa, Phương Triều trước khi đưa tư tưởng hay nhân sinh quan vào thơ của ḿnh th́ anh đă biến ngôn ngữ của hai môn học khô khan ấy thành ngôn ngữ tạo h́nh rất gợi cảm và thơ mộng, tức là ngôn ngữ của thơ. Như thế, đă là ngôn ngữ thơ th́ lẽ nào lại chui vào thơ một cách khó khăn hay sao? Lẽ nào con cá không thể chuồi vào nước để được bơi lội vẫy vùng hay sao?

 

Nhưng mà ngôn ngữ thơ của Phương Triều không quá giản dị, bôc trực và nhất là không suông đuột như thân thể cô gái già ốm yếu chẳng có ngực, không có mông tức là không có nét gồ ghề ngoạn mục ǵ ráo trọi. Trái lại, nó được canh tân, được cải tiến, được mỹ lệ hóa để đuợc trở thành một thứ ngôn ngữ thuần óc sáng tạo, thuần túy... phương triều, không trùng lẫn ngôn ngữ thơ của ai khác.

 

Xé một chỗ mọc lành trăm ghẻ lạnh

Đêm địa cầu da thịt đất đâm gai

Bẫy rập vô tư khuôn vàng thước ngọc

Chân đạp nhằm bóng mộng xác xanh phai.

*

Mưa hào sảng hư từ trên miệng thế

Nụ cười đen xối xả mặt u hoài

Một lẽ sống có muôn vàn nhiễu sự

Thân nhọc nhằn lê lết nỗi chua cay!

*

Người dở chết mím môi gh́m ngấn lệ

Kẻ tồn sinh hồi hộp thở hương phai

Mặt thỏ hôm qua mặt mèo hôm trước

Thêm miệng lằn lưỡi mối giọng bi ai!

*

Cá ngộp thở ngậm rong vàng giữa bụng

Kịch trường đen chợt trắng mặt bi hài

Nối tao vơng ru xanh ngày tĩnh mịch

Chút tàn tro lồ lộ máu xương ai!

*

Chưa kịp tới tưởng đâu c̣n kịp lúc

Tới kịp rồi hồi hộp chỗ lung lay!...

(Nụ Cười Đen, trang 148)

 

Đây là một bài thơ đưa chúng ta đối diện với cái bi đát của con người, cái ngang trái nhục nhằn của cuộc sống, cái thảm thương của những kẻo lao thân vào cạm bẫy tai ương, chắc có lẽ v́ mê say một ảo ảnh nào đó. Ngôn ngữ thơ mờ mờ nhân ảnh, xen vài câu thơ huyền bí rất thơ rất mộng chẳng hạn như : Nối tao vơng ru xanh đời tĩnh mịch. Nhưng nó cũng không hủ nút như thơ của nhóm Xuân Thu Nhă Tập, như thơ của Bùi Giáng. Nó được che phủ bởi một màn sương mỏng, vừa đủ để hiện le lói những chấm đèn lửa quạnh hiu. Có vậy, nó mới làm cho hơi thơ thêm se sắt ngậm ngùi, làm cho ư t́nh thêm thâm thúy, và nhất là khơi dậy óc liên tưởng của người đọc thêm dằng dặc bao la. Chúng ta ngờ ngợ ẩn sau mặt chữ, tác giả c̣n có điều ǵ muốn nói mà không thể nói ra v́ chữ nghĩa vón bất lực, chưa đủ khả năng diễn tả những ư t́nh, những thâm u ẩn mật của sự thật toàn vẹn và rốt ráo.

 

Vũng đựng trăng nghiêng ngày nước cạn

Mặt bùn ửng lại sắc nghi trang

Ḍ ra tăm tích đường đô hội

Vỡ vụn trăm lần một nát tan!

*

Có phải thềm xưa thành vũng mới

Hay bóng đời trôi vào ngơ hoang

Bàn tay buồn bă rời guơng lược

Mà hốt đầy vơi chút bụi tàn?

*

Nhặt cánh hồn trôi vào vất vưởng

Gói tṛn cơ cực ủ lầm than

Mắt vô sinh ngó trời hoang mộng

Sao bật rèm mi ngấn lệ tràn?

*

Chân mây chạm rát triền vai gió

Làm bật đường tơ khúc lỡ làng

Mặt bùn nhuộm ánh trăng khuya lạnh

Người gượng vui cùng khóc lạc quan!...

(‘‘Chân Mây’’, trang 73)

 

Ở đây, ngôn ngữ thơ đen đậm đặc hơn, nhưng cách sắp xếp chữ vẫn tinh vi và gợi cảm như ngôn ngữ trong toàn thi tập, h́nh ảnh được săn t́m và chọn lọc cho thơ vẫn quyến rũ như tự bao giờ. Đó là ngôn ngữ dành riêng cho thơ, mà phải là thơ của Phương Triều. Chẳng hạn: Bàn tay buồn bă rời gương lược/ Mà hốt đầy vơi chút bụi tàn. Và chẳng hạn: Nhặt cánh hồn trôi vào vất vưởng/ Gói tṛn cơ cực ủ lầm than. Tôi đố ai giải thích những câu thơ đẹp ấy cho đúng ư t́nh của tác giả. Và dù chúng ta không HIỂU THẤU nhưng ai cấm chúng ta không CẢM NH

 

N? Cái hiểu thấu chắc ǵ thù thắng băng cảm nhận dù hai cái đều là những cái tiếp thu hay hấp thụ vạn hữu bằng trực giác.

 

Mai đi mốt lại ngập ngừng

Quay ra chưa kịp nửa chừng trở vô

Ván đầu đâu đă tri hô

Chút thương tích cũ hồ đồ kêu oan!

*

Bé em nhỏ nhẹ tiếng đàn

Sao tưng bừng những rộn ràng tới lui?

Nén buồn nhẫn nhịn mua vui

Tới khi vui lại bùi ngùi nỗi riêng!

*

Ghép ḷng theo mảng biến thiên

Thấy nhau hồi hộp ngửa nghiêng tấc ḷng

Nửa ngoài c̣n ở ngoải không

Nửa trong ở trỏng sao c̣n trống trơn?

*

Nỗi đời chỗ thiệt chỗ hơn

Chút hơn thiệt cũng giận hờn thiệt sao?

Không từ không thể có nhau

Nên không dẫu có thế nào cũng không!

(Cũng Không, trang 151)

 

Đi hay ở, được hay thua, đừng vội hồ đồ la toáng lên. Buồn hay vui đều tùy lúc, có khi buồn mà phải giả bộ vui ; cái vui đó không thật. Có khi vui, nhưng trong cái vui đó c̣n lởn vởn cái ngậm ngùi riêng tư. Thôi th́ hăy tùy theo cái biến thiên của hoàn cành, của thế sự. V́ sao? V́ dưới mắt tác giả cái ǵ cũng có cái phân nửa ở ngoài và cái phân nửa ở trong. Nhưng anh lại tự hỏi: cái ở ngoài lẫn cái ở trong quả có thật hay không? Ngoài và trong là 2 điều mà tác giả cho chúng ta cái ư niệm về hư vô, về huyễn hoặc

*

* *

Lác đác đâu đó, một vài cảnh nghèo cực trong một góc phố u buồn xen vào thơ. Chẳng hạn bài Con Phố Đen vẫn chỉ là một h́nh ảnh cư ngụ của lớp người ở cấp bậc thấp trong cái xă hội chốn thị thành. Nhưng nó đựợc diễn tả bằng một phong thái mới với ngôn từ mới :

 

Con phố màu đen ngủ mùa đông xám

Ngách hẹp ngơ tàn chuột chạy bơ vơ

Con phố đêm đêm xong mùi chua rác

Người vắng hơi người thương nhớ ngẩn ngơ !

*

Con phố màu đen ngủ ngày vất vả

Cơn bệnh mùa đông nhuốm mặt xuân sơ

Trên lớp phấn son có màu gió bụi

Ngày xuân xanh... tím lạnh vết bơ phờ !

*

Con phố màu đen vặn ḿnh trốn băo

Bếp lửa xuân về leo lét thờ ơ

Chút cháo hâm chiều húp lại bâng quơ!

*

Con phố màu đen rêu dài lưng ngói

Nỗi nhớ thương khô cháy vào ngấn lệ

Đêm gục đầu âm vọng gió se tơ!...

(trang 77)

 

Bài thơ Hơi Cơm Cháocũng là một hột trong xâu chuỗi thơ hiện thực của Phương Triều. Trước đây, văn hào Dostoievski sông trong hoàn cảnh khó khăn về mặt tài chánh. Ông mới có dịp được gần gũi người thất bại, những kẻ thất thời thất chí ; ông lân la với những kẻ bần hàn và nhất là những bậc trí thức có cuộc sống đạm bạc. Đó là những kẻ có óc chống đối với hoàn cảnh hiện tại, chống đối với niềm tin tưởng về phương diện tâm linh, mặc dù các đương sự ấy yêu thương cuộc sống, yêu thương tha nhân và hay thắc mắc những vấn đề siêu h́nh cùng vấn đề thần linh. Điều này báo hiệu cho chúng ta biết trước cái thế giới văn chương của Dostoievski đầy dẫy những nhân vật khó thể thỏa hiệp với đời sống. Họ sống bằng những bản năng thô bạo, bằng khao khát những vấn đề siêu h́nh; trong bọn họ có lắm kẻ thác loạn thần kinh. Cái phần tối tăm, dữ dằn của họ chiếm rộng trong cái nội giới bị ít nhiều thương tích của họ. Riêng Phương Triều trước năm 1975 chỉ viết những truyện ngắn hiền lành. Sau thời gian bị tù đày dài dằng dặc, anh c̣n phải sống thiếu thốn cơ cực dưới chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa, gánh vác biết bao hệ lụy oan khiên. Sau khi ra hải ngoại, anh vẫn c̣n bị ác mộng kinh hoàng trên quê hương ám ảnh. Thi ca của anh lúc đầu c̣n bát ngát niềm hoài cảm, nhưng dần dần những cơn ác mộng trong tiềm thức đen sâu trồi ra đưa đẩy nguồn sáng tác của anh vào trong cái thế giới đen tối hơn, có những cái bí nhiệm kỳ đặc hơn, tạo cho anh một loại thi ca làm bàng hoàng người đọc.

 

Bài thơ Nước Đenvẫn nằm trong đề tài nói về cảnh nghèo nàn thiếu thốn. Nhưng ở trường hợp này, nó không phải chỉ là bức tranh xă hội để tác giả triển lăm cho độc giả ưa thích thơ văn hiện thực hay thơ văn tân hiện thực thưởng ngoạn mà là để cho những ai thích t́m về những cái siêu h́nh trong cuộc sống, trong mọi cá thể của thế nhân. Anh đưa bức tranh xă hội vượt cao hơn thơ của trường phái hiện thực hay trường phái tân hiện thực nhiều cung bậc. Xin đọc:

 

Có loài cỏ c̣n cao hơn cỏ dại

Nhánh ch́a tay đơm những giọt sưong tan

Chao ngọn gió thổi ngang b́nh địa mộng

Dắt hồn lên đường ngược cơi điêu tàn!

*

Nên bất chợt lănh nguyên đ̣n trái trắc

Đời chơi khăm hay đời vẫn ngược ngang

Người keo kiết trách than người biển lận

Vớt trăng tàn soi lại ngơ đêm hoang...

*

Nên tự tiện kề môi lên khóe mộng

Hôn phù du níu vội bóng mây ngàn

Mưa gơ lá lại nghe chừng long óc

Rỗ mặt đời xanh ngọn gió cường toan!

*

Bao đói lạnh cứ mong kỳ ngộ lúa

Hột trời cho thành mộng ước cao sang

Đem bán rẻ tuổi vàng cho kẻ chợ

Rồi hồn nhiên ăn uống bữa đàng hoàng:

*

Từ vực kiếp vang vang lời phẩn nộ

Suối hồn đơn cuồn cuộn nước đen tràn...

(trang 128)

 

Bài thơ Giấc Lúaphơi bày vài nét khái quát cảnh thiếu thốn của những kẻ ở thôn quê, nhưng nếu ta xếp nó vào loại thơ hiện thực th́ không mấy xứng cái tài sáng tạo ngôn ngữ vừa mới mẻ vừa truyền cảm của Phương Triều. Đọc xong bài thơ này, chúng ta có thể nh́n sâu vào cảnh ngộ, vào thân phận con người hơn loại thơ hiện thực:

 

Thêm nhưn nặng chỗ tay bồi

Hột muối tiện dịp đắng đời khổ qua

Đắng dùm cho ngọt xót xa

Miếng cơm đất lạnh đắng ra miệng người!

*

Thêm vui trên miệng thiếu cười

Trẻ thơ bú mớm nửa vời rụng răng!

Hạ về dắt gió xua trăng

Miếng bánh không tuởng cũng bằng không ngơ!

*

Thêm mơ vào mộng vật vờ

Ngủ quên giấc lúa sân chờ thóc xưa

Tay chiều chải mượt tóc mưa

Trán sơn thủy ướt chỗ vừa rát đau!

*

Se chung gốc ngọn hồi nào

Tơ duyên rời ră dính nhau chỗ buồn!

(trang 54)

 

Bài thơ Bóng Tốicũng phơi bày sơ sơ cảnh nghèo, cảnh lọc lừa gian trá, cảnh đổi thay ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ôngmà tác giả vừa làm chứng nhân vừa lặn hụp sống trong đó. Chính những cảnh đau thương như vậy chẳng những tạo cho anh lối thơ hiẹn thực có tầm vóc mà c̣n đẩy nếp tư duy anh đi xa hơn, vào một khung trời tư tưởng để nguời đọc có dịp chia sẻ với anh:

 

Đêm ru đường chia nhau bóng tối

Không chắc ǵ... no đói bữa sau!

Người tất tả đi để không c̣n ngồi lại

Thêm bước lạc loài đâu vội có nhau!

*

Thân trúc chẻ ra làm cây tăm nhỏ

Manh áo thời danh mưa gió cũ nhàu

Vệt máu mênh mông chảy từ vết bụi

Hồn bút vật vờ rỏ mực thương đau!

*

Kẻ sĩ xuôi tay kê đầu lên sóng

Mẹ trùng dương về rửa mộng hư hao

Đứa trẻ năm xưa mặt mày non nớt

Giờ nhăn nheo cằn cỗi giống quân nào!

*

Treo bảng phấn bán rao đồ giả hiệu

Thiếu viện mồ côi thơ ấu bôn đào

Lăo pháp sư buồn sửa câu thần chú

Lờn mặt từ trong tiếng gọi mày tao!

*

Ngựi xếp ga chiều đón thêm tàu chợ

Thiên hạ âm thầm bán rẻ đời nhau

Két học đôi ngày thành danh hốt bạc

Chúa chổm quay về vay nợ ăn khao!

*

Khói cay rộ niềm đau của củi

Tre già khô che ngọn bích đào

Thế kỷ hoang mang từ năm thứ nhứt

Người sống thiệt thà giống chuyện tào lao!

*

Người c̣n đốt lá soi t́m thanh sử

Bảng hiệu đèn khuya sáng rộ chỗ nào?

(các trang 136, 137)

*

* *

Thơ Phương Triều trong thi tập Xương Rồng Đen có rất nhiều vấn đề để tác giải bày giải nỗi ư tư của ḿnh. Nói thế các bạn sẽ thắc măc bút giả: Ủa ngộ dữ không! Làm thơ là để hưởng cái đẹp của cuộc đời, để được hạnh phúc trong nếp sống thường nhật , để tinh thần được thăng hoa vào cơi mộng tuyệt vời, vào bầu tâm cảnh không c̣n liên lạc với đời sống bon chen, hổn độn và lầm than này. Cớ sao ông lại dám cho rằng Phương Triều tṛng cái trọng lương nặng nề vào thơ như người nông phu tṛng cái ách vào cổ con trâu? Làm thơ và viét văn là để thưởng ngoạn chớ đâu phải để suy tư. Sao ông cầu kỳ, phiền phức và rườm rà như vậy?’’.

 

Xin thưa, khiếu thiếu ngoạn của những kẻ sành thơ bây giờ đă đổi khác, đâu quá đơn giản như kẻ làm loại thơ tô hồng chuốc lục cho ảo tưởng ḿnh độc giả như thơ của truờng phái duy mỹ vào thời đại xa xưa nào đó. Nó thích những cái ǵ phản ảnh được những điều bí nhiệm của cuộc sống, ngoài cái sinh hoạt của xă hội hiện tiền. Nắm bắt được những đièu đó, chẳng những người sáng tác sung sướng ở công tŕnh khám phá của ḿnh mà những độc giả cũng khoái lạc v́ kiến thức ḿnh được bồi bổ. Độc giả lại c̣n tưởng chừng ḿnh có thể t́m được một vài cánh cửa để phóng mắt vào những chân trời mới mà trong cuộc sống trước đó họ đă từng đóng chúng bưng bít.

 

Ngay những chuyện tầm thường trong cuộc sống gối chăn của anh cũng đă có vài vấn đề nho nhỏ, tuy không làm anh tổn thương hay bực dọc, nhưng làm anh bỡ ngỡ sơ sơ và lo nghĩ chút chút nên anh phải bật ra những câu dí dỏm:

 

Phía bên kia khóc là cười

Ở trong rộn rịp có người ngủ quên

Ta từ xác mộng khiêng lên

Làm con bướm rụng cánh trên vai đời...

*

Đêm chơi tṛ ngủ hai nơi

Nhọc nhằn phiên thức ru người gối chăn

Cứ đêm mỏi gối hai lần

Ăn gian mấy được một phần nghỉ ngơi!

*

Nhân danh t́nh nghĩa không dời

Trái tim ngàn lượng rụng rời năm trăm!

Ái ân lỡ dịp ăn nằm

Nằm ăn đứng ngủ bởi nhằm phiên quên!...

(Hù, trang 130)

*

* *

C̣n vô số vấn đề quan trọng hơn, bi đát hơn buông vô số câu tra vấn, vô số phiền năo cho con người có ư thức về sự hiện hữu. Có ư thức đươc sự đau khổ trong cơn đại mộng trên trần thế, con người mới bắt đầu t́m kiếm cái chân hạnh phúc đồng hóa với cái bản thể của hiện hữu. Đó là sự giải phóng vĩ đại để chúng ta thoát ra bể khổ, để chúng ta t́m gặp sự an lạc vĩnh viễn. Nhưng ở đây, Phương Triều chỉ ở chặng đầu của con nguời ư thức về cuộc sống. Cho nên anh ngơ ngác trước bao hệ lụy tràn ngập trên đường đời. Đó là cái đau khổ chung cho những nhà thơ mới tiếp nhận một tia lóe sáng trong đêm tối bao la vốn đă từng che lấp tâm thức con người sống lêu bêu, không thèm đặt vấn đề về cái ẩn mật trong cuộc sống.

 

Điểm mặt hồn nhiên nét mộng cười

Đốm trăng huyền thoại gạt người chơi

Nai lưng mà vác từng cơ cực

Rồi tận t́nh vui tới hụt hơi !

*

Quán nhỏ bâng khuâng chiều thở bụi

Ngó người ảo mộng thịt da phơi

Chút chi gai góc trên tṛn trịa

Như nỗi buồn dư giữa thắm tươi!

*

Gơ trống bày thêm tṛ thưởng phạt

Tiện tay vẽ lai kiểu môi cười

Có khi đau quá đời vô vọng

Mà vội vàng rao bán mặt người!

*

Đất cũ đêm hoang ùn gió băo

Cội mai nào hé nụ xinh tươi?

Miếng cơm vừa nuốt chưa qua cổ

Đă nghẹn ḷng đau tận ră rời!

*

Đâu một lần Xuân không vội Tết

Đời qua như thể hết Xuân người!...

( Xuân Người, trang 5)

 

Tác giả vẽ nên cảnh cô đơn của một ông lăo đờn c̣ đă góa vô, đă giải nghệ, hiện sống trong cảnh tuổi già yếu, thiếu thốn vật chất và rất cô đơn. Ông chia sớt nỗi ḷng cùng con dế tật nguyền v́ đă gảy cánh nên gáy không ra tiéng. Sự tuơng lân tương ái nẩy sinh giữa người và con côn trùng trong đêm mưa gió. Hoàn cảnh bi đát có thể nối liền qua sự giao cảm tuyệt vời của cả hai chỉ có một nhân chứng tuyệt vời duy nhất như Phương Triều mới hiểu thấu bằng trực giác thần diệu. Trực giấy ấy hóa thân thành bài Đốm Sương’’:

 

Ông lăo đờn c̣ cười khô miệng móm

Chiếc răng cuối cùng dính bọt cháo hoa

Hột muối mặn xé buồn trong ruột lạnh

Ông lăo bâng khuâng ngồi nhớ lăo bà!

*

Nấm mộ sần sùi trên vồng đất lở

Con dế thẩn thờ gặm đốm sương sa

Đôi cánh tật nguyền gáy không thành tiếng

Từng đêm thao thức như đôi bạn già!

*

Ông lăo sững nh́n đôi tay tĩnh vật

Sợi dây đờn xưa giờ ở đâu xa

Âm hưỏng mơ hồ điệu ru của gió

Từ trong mịt mờ vọng tiếng mưa qua...

*

Sấm nối đuôi về gầm rung lều cỏ

Thân vẫn như người hay đă tiêu ma

Tấm thân từ đất c̣n nhiều nợ đất

Tay đất ôm người lẩn lộn thịt da!

*

Đôi bạn già chơi tṛ câm lặng

Đất vặn ḿnh đau bao nỗi ruột rà

Cây lá lộn hồn từ phương thất thổ

Mưa lại chợt về cho cỏ đơm hoa!...

(trang 30)

 

Hoàn cảnh giữa lăo già và tác giả Phương Triều vốn khác biệt nhau. Nhưng một kẻ hay nh́n sâu vào những thân phận cô đơn của tha nhân, nên tác giả nhiều lúc cảm thấy ḿnh cũng khốn khổ cô đơn v́ tưởng chừng ḿnh mất một số điểm tựa tinh thần nào đó. Những lúc ấy, trong tâm tưởng, anh cũng cảm thấy ḿnh hóa thân thành lăo già.

 

Theo thói thường của những kẻ cô đơn khốn khổ thường mượn men rượu giải sầu. Phương Triều th́ mượn men rượu để thắt chặt t́nh bạn đồng nghiệp trong giới làng văn trận bút. Thét rồi anh đâm ra nghiện. Cái hậu quả của men say vẫn có khía cạnh tiêu cực lẫn tích cực. Men rượu đưa người vào cơn nghiện trầm kha để phá hỏng cuộc đời họ. Nhưng men rượu cũng có thể giúp cho các nghệ sĩ biết bao cảm hứng lai láng và phồn thịnh. Thuở truớc, thi hào Omar Khayyam xứ Ba-tư và thi hào Lư Bạch xứ Trung Hoa há không phải thuộc hạng túy tửu phiên vương hay sao? Văn hào Francis Scott Fitzgerald há không phải là ông thần ve chai cự phách hay sao? Các nhà văn Việt Nam nổi tiếng như Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Thanh Nam cùng nhạc sĩ Phạm Đ́nh Chương há không phải là nhưng tên tuổi sáng chói trên văn đàn nhạc giới hay sao? Riêng ở trường hợp Trần Tuấn Kiệt và Phương Triều, rượu d́u họ vào một thế giới thi ca lạ lẫm và bí nhiệm mà ít có nhà thơ nào can đảm lẫn kiên nhẫn ghé mắt tới

 

Người ngủ đêm vàng trên sóng rượu

Không thấy ngày thức vội hôm sau

Ngàn cân rót nhẹ ly hồ hải

Buồn vạn lần đổi một vui sao?

*

Gối đá nằm co say tĩnh vật

Nhà hoang tưởng dậy bước chiêm bao

Nắng khô lá nơn màu vàng đọt

Biển dội tràn sông ngọn sóng nào?

*

Khép đôi tay ấm vào chân lạnh

Chút nhiệt t́nh dư ủ hụt hao

Tiếng mộng vo ve từng huyễn hoặc

Xương tàn cốt rụi cỏ xanh xao!

*

Dạo chơi vào ngơ hồn hiu quạnh

Thây chữ nằm co lại dáng đau

Thơ như vần điệu tuôn nhầm chỗ

Nên vận vui buồn xiên xỏ nhau!

*

Đất trú chiều dâng chân gió băo

Ngựa qua cầu nhỏ nắng lao xao

Môi lạt thèm thơm hơi lục bát

Vần đau ghép vội nỗi đau nào?

(Đất Trú, các trang 110, 111)

*

* *

Các bạn độc giả thân mến, nhà thơ Phương Triều của chúng ta dù mê say dong ruỗi trên những ngă rẽ hào hứng của thi ca, nhưng anh không bao giờ quên các bạn, quên cái tuổi trẻ mộng mơ của chúng ta, không quên luôn thời kỳ t́nh tự yêu đương khi tóc anh c̣n xanh mướt, khi mắt anh vẫn long lanh sáng với ư t́nh khi một bóng ư trung nhân đang đi sâu ào khắp ngỏ ngách của trái tim anh. Do đó, những bài thơ lăng mạn mới có dịp hồi sinh trong quyển thi tập chuyên chở quá nhiều tư tưởng như thi tập Xuơng Rồng Đennày. Nhưng anh kiến thiết ngôn ngữ t́nh yêu trong thơ. Mỗi bài thơ vẫn có như câu và những chữ lẩm cẩm rất thơ, xen vào đó là những câu có ngôn ngữ tân kỳ. Những câu, những chữ lẩm cẩm ấy biểu dương nồng độ yêu đượng thật đậm đà, thật thắm thiết. Trong cơn yêu dấu, ai đó nói những câu quá tỉnh táo, những câu sáng suốt th́ ư t́nh sẽ nguội lạnh và loăng nhạt đi.

 

Một lần đi tưởng đi luôn

Vừa qua gặp mặt lại tuồng như quên !

*

Tưởng rằng được vậy đă hên

Dè đâu bởi vậy cho nên mới buồn !

Dẫu ǵ cũng lỡ nhớ thương

Dẫu rằng lỡ vậy, vậy luôn mới buồn!

*

Bột về thắc mắc hỏi khuôn

Sao trên mặt bột rải đường khác nhau?

(trang 4)

 

Cái thời thơ mộng và hiền như mực tím(nói theo Nhă Ca) là thời cắp sách đến trường, vào ngưỡng cửa tuổi hoa niên. Những mối t́nh học tṛ lấy bối cảnh sân trường lớp học, bảng phấn tường vôi đă được nhiều nhà thơ từ tiến chiến tới nay khai thác bấy bầy rồi. Bây giờ vẫn có Vũ Thi An tiếp tục viết những vần thơ t́nh học tṛ qua hai thi tập T́nh Quê T́nh Thơvà Cuối Đường Hạnh Phúc. Thường là những bài thơ rất... học tṛ, nếu không săn t́m được những h́nh ảnh độc đáo, những tứ hơ kỳ đặc, và nếu không canh tân ngôn ngữ cho thơ th́ nên đưa những bài thơ ấy vào quyển nhật kư hay quyển lưu bút mới thích hợp hơn. PhươngTriều dù đă gần tuổi thất tuần, nhưng anh không dị ứng với loại thơ thời mơ tuổi mộng, không ngại quay về dĩ văng để khơi lại nguồn thơ đầu mùa của ḿnh.

 

Mưa về cho nắng hạ trong

Cho thắm phượng hồng đỏ sắc môi em !

Góc ngồi tay múa que kem

Nh́n ra mộng mị đời lem luốc buồn !

*

Điệu ve nhịp guốc sân trường

Mực xanh lưu bút dễ thương chừng nào?

Ngơ đời sóng chợt lao xao

Bạn từ hôm đó lạc nhau lần hồi...

*

Trăng nào thắp đuốc tuổi tôi

Nhởn nhơ đom đóm ngồi chơi khắp vườn

Se ḷng nhăn gió nhủ sương

Ngóng em chừng đỗi dễ thường nguôi ngoai!

*

Mưa dầm không ướt kẽ tay

C̣n chen chân chỗ khô ngoài ướt trong!...

(trang 20)

Để mai lỗi hẹn thành ra mốt

Ta lạc nhau từ hẹn bữa qua

Người đi như thể không về kịp

Mà kịp về không kịp cách xa !

*

Xô nhau thức giữa ngày Thu ngủ

Một chút trăng non bỗng sáng ḷa

Người đưa tay hứng sương Thu tới

Mà tưởng chưa hề Hạ chớm hoa!

*

Nên chi phượng cũ không về nữa

Trường lớp mưa giăng bóng nhạt nḥa

Tiếng trống trường xưa dồn tĩnh mịch

Nghiên sầu bút lạnh giữa phôi pha...

(Lỡ Hẹn, trang 26)

 

Những bài thơ t́nh của Phương Triều chẳng những có vóc dáng riêng biệt mà c̣n có ư t́nh đặc thù. Loại thơ này không mặc đồng phục với các bài thơ t́nh yêu của kẻ khác. Thuần chất sáng tạo là đây!

Những kẻ có t́nh yêu đơn phương hay trong t́nh yêu nhạt nhẽo thường tra vấn cái nguyên do t́nh cảm của ḿnh lẫn của người đối tượng. Họ c̣n thắc mắc hoàn cảnh nào mà cái cung không đáp ứng trọn vẹn cái cầu, cái hệ lụy nào khiến cho hạnh phúc dậm chân tại chỗ hay cất cánh bay đi. Nói theo Xuân Diệu là: Cho rất nhiều song nhẫn chẳng bao nhiêu/ Nguời ta phụ hay thờ ơ chẳng biết. Các đương sự cứ hỏi lung tung, cứ thắc mắc liên tu bất tận, nhưng rồi ra vẫn ở trong ngơ bí, trong mê cung hoặc trong bát quái đồ h́nh.

 

Yêu lâu rồi mà như chưa yêu

Cho bao nhiêu mà như chưa nhiều

Lấy ra đếm lại rồi đem cất

Nên bấy nhiêu thành chẳng được nhiêu!

*

Dẫu cho thí tỉ mà như vậy

Th́ cứ yêu dầu chẳng được yêu

Dẫu ǵ cũng chẳng buồn cho lắm

Th́ chút buồn kia chẳng đáng nhiêu!

*

Hết yêu đâu lẽ c̣n yêu được

Dẫu có yêu hoài cũng bấy nhiêu!

Dẫu rằng đă vậy th́ thôi vậy

Mà chút yêu thôi cũng lụy nhiều !

*

Hỏi rằng tới tuổi bao nhiêu

Th́ quên được hết những điều chưa quên!...

(Nhiêu, trang 78)

 

Tác giả cứ o bế ngôn ngữ lẩm cẩm dễ thương của một kẻ chưa có kinh nghiêm sâu sắc và dồi dào trong t́nh yêu. Điều này rất dễ làm mủi ḷng người đọc. Và h́nh như bởi lẽ đó mà anh hơi lănh đạm với ngôn ngữ của thơ. Bài thơ thiếu nét tạo h́nh, thiếu cảnh vật lót nền cho bài thơ. Ngôn ngữ thơ ít quá! Nhưng ở bài Dưtác giả chuộc lại điều sơ sót của ḿnh bắng cách nâng thơ t́nh yêu lên vài cung bậc cao, đưa thơ vào cái bí nhiệm, cái thắc mắc siêu h́nh. Xin đọc:

 

Em thiệt t́nh quên không thể nhớ

Mà ta t́nh thiệt lại không quên!

Dẫu cho chỉ một lần không nhớ

Mà ngỡ ḿnh thành thương nhớ thêm !

*

Ghé qua gặp lúc không c̣n gặp

Chút nghĩa t́nh thôi chắc chẳng bền

Ta thiệt t́nh cho nên mất thiệt

Chút t́nh đâu đủ nghĩa nhân duyên !

*

Cứ như điệp khúc đời đơn điệu

Người dắt nhau vào cuộc ngửa nghiêng

Tới đêm lẩn lút về thăm mộng

Chợt thấy tiền thân rời căn nguyên !

*

Biển đi c̣n vết sầu trên cát

Chân dă tràng chao bóng đảo điên

Hồn ủ vào miên trường tĩnh vật

Tay một đời dư chỗ tật nguyền !

(trang 140)

*

* *

Trong nghệ thuật thi ca, Phương Triều lột xác từ từ, chậm chạp. Nhưng những bước chân thẳng tiến trên lộ tŕnh bằng phẳng hay những bước đăng sơn của anh thật vững chắc. So với thi tập Thơ Phương Triềugồm những bài thơ cảm hoài, thơ hiện thực, rồi th́ tới thi tập Xóm Mộ, anh bắt đầu chổi dậy để hưởng ứng những loại thơ viễn thâm t́nh ư, loại thơ khám phá cái bí nhiệm của cuộc đời. Những bài thơ trong 2 thi tập áp chót (Xóm Mộvà Giọt Sữa Đất) bắt đầu sửa soạn một cuộc hóa thân ngoạn mục nên có tầm vóc khả quan. Như thế, tập thơ Giọt Sữa Đất như vầng chiêu dương đỏ ối trồi lên góc biển phương Đông, nhuộm hồng chân mây, c̣n thi tập Xương Rồng Đennhư mặt trời vừa leo lên đỉnh ngọ, tỏa sáng khắp sum la vạn tượng.